Ngo i ra, nếu xét về các cân đối đối với trung, d i hạn thì tỷ giá không phải vấn đề đáng lo nhưng trong cân đối h ng ng y lại l chuyện khác. Với quy mô giao dịch trên thị trường không lớn, chỉ cần một giao dịch “hút” v i chục triệu USD mỗi ng y, lập tức tính thanh khoán có vấn đề. Vì vậy, tại thời điểm n y, cơ quan quản lý phải có sự nhìn nhận, đánh giá v can thiệp kịp thời. Nhìn ra một số nước trong khu vực, trong khi đồng tiền của họ đang lên giá so với đồng USD thì VND cứ canh cánh nỗi lo mất giá, mặc dù nền kinh tế những nước n y có những nét tương đồng với Việt Nam như khả năng xuất khẩu, khả năng cạnh tranh. Đó l điều m các cơ quan quản lý không thể không lưu tâm.
Một lý do khác không kém phần quan trọng, đó l tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp vay bằng VND. Do lãi suất vay VND thấp, phạm vi v thời gian cho vay được mở rộng theo chủ trương kích cầu của Chính phủ, không ít doanh nghiệp nắm giữ ngoại tệ có xu hướng không muốn bán ngoại tệ ra v chỉ muốn vay bằng VND. Vì vậy mặc dù nhu cầu ngoại tệ không quá lớn nhưng do doanh nghiệp không bán ngoại tệ cho hệ thống ngân h ng, nên các ngân h ng thương mại không có đủ ngoại tệ phục vụ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, “neo” VND v o “rổ” ngoại tệ không phải không có khó khăn. Chẳng hạn, phải xác định trong “rổ” đó gồm những ngoại tệ n o, tỷ trọng từng ngoại tệ l bao nhiêu v dựa trên cơ sở n o để xác định tỷ trọng của chúng. Đó l chưa nói đến thay đổi thói quen của doanh nghiệp trong việc sử dụng USD cũng như thói quen muốn nh n nhã của Ngân h ng Nh nước, bộ máy tính thuế, cũng như hoạt động xác định lại giá trị thực t i sản có của doanh nghiệp đối với cơ quan kế toán v kiểm toán, vốn tồn tại h ng chục năm nay, l điều không dễ d ng.